Thứ Hai, 7 tháng 9, 2015

CHỐNG CHỌI(*)

Truyện ngắn Giang Trung Học
            Trên đời này hỏi còn ai khốn khổ hơn hắn. Hai chân cụt quá đầu gối. Tay phải cũng chẳng còn. Đã thế, hắn lại không có ai thân thích. Không tiền bạc. Không cửa nhà. Tất tần tật là con số không. Đôi lần hắn muốn chết quách cho xong một kiếp người. Chẳng thiếu gì cách chết. Nghĩ đi nghĩ lại, hắn sợ chết. Đành chống chọi để sống. Sống lê lết khắp cái thành phố mênh mang, lạ lẫm, sớm nắng chiều mưa này. Chỉ bằng độc cách ăn xin thiên hạ.
            Trước một quán phở sớm nay, lúc người ta chưa mở cửa đón khách đã thấy hắn ngồi lù lù, như đống giẻ rách ngấm nước bởi trận mưa tầm tã. Cuộc vật vã kiếm ăn dưới nắng hè đổ lửa khiến hắn kiệt sức, dành bạ đâu nằm đấy. Hắn đã nằm dưới hiên quán phở này suốt cả đêm qua. Biết đoạn đường đến nơi trú ngụ chẳng bao xa, nhưng hắn không đủ sức lê thân trở về.
            Nơi hắn trú là cái hang chó dưới gầm cây cầu bê tông vắt ngang sông. Vậy mà hắn phải mò mẫm mãi mới tìm ra nó. Những mong nơi đấy có thể giúp hắn giành giấc ngủ yên thân trong mỗi đêm đêm. Trước đó hắn tưởng nơi thành phố mênh mang này, vỉa hè xó chợ thừa đủ cho hắn nương tựa cả đời. Nhưng không. những nơi ấy, bất kể giờ nào hắn cũng dễ dàng bị xua đuổi. Người ta xua hắn như xua một tên hủi cùn hủi cụt. Như để loại trừ một vụ khủng bố, hoặc là vụ ăn cướp có thể xảy ra. Còn trời đất xua hắn bằng mưa, bằng gió, bằng ánh nắng chói chang ngày hè, bằng cả cái giá lạnh lúc canh khuya. Hắn đành cam phận rúc vào cái hang chó ấy.
Lần đầu đến thám thính cái hang, lúc vừa thò mặt đến cửa, hắn bị một thứ mùi hôi vừa lạ vừa quen xộc thẳng tận họng. Hắn xác định ngay, đấy là mùi chó. Mùi chó trong hang yếm khí, khiến hắn hắt hơi năm cái liền, rồi vội bò lùi trở ra. Không mau ra, đụng phải chó dữ khó mà bảo toàn mạng sống. Nhưng vừa lùi được một tí, hắn chững lại ngay. Bởi trong hang có chó dữ thì nó đã bổ thẳng vào hắn tức khắc rồi. Sau mấy phút nghe ngóng, không thấy phản ứng cản trở nào, hắn quyết định thám thính tiếp. Qua cái cửa hẹp là ô đất khá rộng, đủ để hắn nằm ngồi nghỉ ngơi. Nhưng mà… nhưng mà… lũ chó đi đâu? Chúng đi kiếm ăn, hay đã bỏ nơi này? Xem chừng thì chúng bỏ hẳn rồi. Ngoài trời đang đầy nắng; nhờ vậy hắn nhận rõ mọi dấu tích chó để lại trong hang đều đã cũ. Những vết chân cào trên nền đất như bị phủ một lượt rêu trắng nhờ, mỏng tang. Và mấy mẩu xương khô cỏng khô queo trỏng trơ bừa bãi. Thôi thì kiếp chó chúng mày đã bỏ nơi đây, hãy để kiếp người tao tiếp thu vậy. Với kiếp người, ngoài tao, hẳn không ai chịu đưa thân đến ở cái hang này, phải không? Sau ít phút ngó nghiêng, hắn ngồi áp lưng vào vách hang, cặp mắt lim dim như thỏa mãn lắm. Thế là từ nay hắn đã có chỗ nằm ngồi nghỉ ngơi, để mà tránh nắng tránh mưa, và tránh mọi sự xua đuổi của con người. Mai mốt, chỉ cần hắn tha về vài cái bao lác bao đay phế thải ở đâu đó, để mà thay chiếu thay chăn cho yên giấc ngủ là xong.
Nhưng rồi hắn lại nghĩ: Liệu lũ chó hoang kia có quay lại đây không? Hay là một đàn chó khác kéo đến thì sao? Biết chẳng thể giải đáp những điều mình đặt ra, hắn chép miệng: Thôi, mặc nó. Lửa cháy đâu thì ta liệu đấy. Chó má, bỏ qua đi. Cái đáng lo đáng ngại chính là sự cư xử giữa con người với nhau thôi. Không biết người ta có để cho mình sống yên thân trong cái hang chó này?
Ít lâu sau, câu hỏi hắn đặt ra đã được giải đáp: Chỉ trong vòng một tháng, hắn phải bốn lần đối mặt, khai trình, cầu xin đồng loại - là những đội tuần tra an ninh, từ phường quận đến thành phố. Cho dù trong lòng đầy oán giận, nhưng miệng hắn cứ phải thưa dạ ngọt xớt, và trả lời trôi chảy tất tật những điều họ căn vặn thật khó lọt tai. Có vậy mới mong hưởng sự ban phát chiếu cố từ họ, để hắn được tiếp tục cư ngụ trong cái hang chó ấy. Nếu họ bất ưng, hắn sẽ bị tống khứ với vô vàn lý do. Rằng nơi cây cầu là tuyến giao thông quan trọng của thành phố, nên cấm tuyệt đối mọi hành động vi phạm. Rằng hắn vốn là tên lính ngụy - một đối tượng cực kỳ nguy hiểm, cần phải ra tay hót liền. Rằng… v.v… và v. v…
Sớm nay, trước quán phở này, mặc dù hắn đã chọn chỗ ngồi không hề làm vướng bận khách ra vào, nhưng vẫn nơm nớp nỗi lo bị xua đuổi. Toàn thân ướt lạnh, lại thêm cái đói cồn cào suốt đêm, khiến hắn run cầm cập liên hồi. Bị đuổi, nghĩ chẳng còn sức lê đi, nếu bây giời hắn không được thứ gì nhồi nhét vào bụng. Thế nên cả tiếng đồng hồ hắn đành im lặng như một thằng câm, không hề cất lời xin xỏ bất kỳ ai. Chỉ lâu lâu, hắn mới chìa bàn tay độc nhất, khô héo, đen đủi, ra trước khách; để cầu mong sự cảm thông, thương hại, bố thí. Nhưng cả mấy chục lần chìa tay ra, có ai động lòng thương xót hắn đâu. Hắn đã quen cái sự cư xử lạnh lùng như thế. Quen cả những lời nhiếc móc mắng mỏ, mà nguyên nhân chẳng bởi hắn gây nên.
            Cho mãi tới lúc vắng khách, bà chủ quán béo nộn béo phì mới buông một câu lạnh lùng hỏi hắn:
            - Có cái gì đựng không?
            Hắn vội vàng đáp, như thể chậm lại sẽ bị cắt suất tức thời:
            - Dạ... dạ... có... có... ạ!
            Liền đó là cái bát chậu bằng sắt tráng men, sứt sẹo, cóc cáy, được hắn chìa ra. Và một thứ phở hổ lốn, dồn từ đồ thừa của khách, được trút vào cái bát ấy. Hắn cúi đầu cảm ơn cô gái chạy bàn, theo lệnh chủ, đã đem tận nơi cho hắn. Vừa ngửi hơi thức ăn, hắn thấy ấm tít sâu trong bao tử.
Xưa kia, nhìn những kẻ sa cơ tranh giành thức ăn thừa thải nơi quán xá, hắn vội né xa, và từng nôn oẹ. Phải ăn những thứ cho chó cho heo, khổ đến vậy mà sao họ không dám chết. Sống kéo dài nỗi khốn nạn để làm gì. Con người ta sống do bản năng hay ý thức quyết sống? Hắn không tự giải thích được những điều mình đặt ra. Mà những điều ấy chẳng làm hắn bận tâm lâu. Nó vuột đi khỏi hắn như làn gió thoảng, chẳng hề đọng lại tí gì.
Nên lúc này, hắn càng không mảy may gợn nhớ tới hành động vả cả loạt câu hỏi mình từng đặt ra từ cái thời xưa ấy. Hơn nữa, sự sống cùng cực đã sớm làm cho não hắn lì hết mọi lớp nhớ rồi. Lúc này vì quá đói, hắn đang háo hức cần ăn. Vục miệng xuống cái bát để trên bậc thềm, với sự trợ giúp của một bàn tay còn sót lại, hắn húp đớp ngấu nghiến, như thể giống heo ăn cám trong chậu vậy. May thay cái bao tử hắn, chẳng biết từ khi nào đã trở thành c máy nghiền miễn dịch với tất thảy những đồ ăn mất vệ sinh, chẳng khác dạ dày của bày chó bày heo.
            Ăn xong, hắn lau qua quít bát muổng bằng vuông giấy chùi tay thải bỏ, rồi nhét nó trở lại cái túi bạt quân dụng luôn theo sát bên mình. Trong túi còn cả bộ quần áo lính rách bươm, nồng mùi mồ hôi, giống y bộ đang mặc trên người hắn. Đó là tất cả tài sản của hắn. Nó bất ly thân như súng đạn với người lính vậy.
            Hắn đã gần ba năm làm lính. Một anh lính bị bắt buộc thực hiện quân dịch. Hắn từng chủ tâm trốn chạy sự bắt buộc ấy, nhưng không thoát. Tội gì đâm đầu vào chỗ chết để xây cái ghế vương giả cho một nhóm người. Phải, thời nào cũng chỉ một nhóm người được hưởng đặc quyền đặc lợi thôi. Còn hắn, tuy không chết nhưng tàn phế như thế này đây. Sau khi chữa chạy vết thương, hắn được hưởng chế độ nuôi dưỡng suốt đời ở một trại phế binh. Hắn không  mong hưởng cái chế độ ấy. Mong, hoá ra thích mình tàn phế ư. Chỉ kẻ rồ dại mới nghĩ thế. Nhưng khi số phận bị rơi vào cảnh bĩ cực thì, chế độ nuôi dưỡng ấy đủ để cho hắn yên thân hết đời. Thế rồi, sự xoay vần của cuộc chiến đã quẳng hắn ra ngoài lề cuộc sống chung. Chế độ Cộng hòa sụp đổ khiến hắn mất hẳn nơi nương tựa. Hắn buộc phải sống lê lết, ăn xin khắp nơi.
Kẻ lành lặn chân tay đi ăn xin đã là cực quá rồi. Què cụt như hắn, nỗi khổ càng không kể xiết. Hắn đâu phải con người, mà là cái khối thịt nhọ nhem, với cặp mắt trắng dã như thể mắt heo luộc. Da dẻ hắn thì đầy mụn nhọt, giống hệt người mắc bệnh SIDA giai đoạn cuối. Dạng hình như thế, nên chẳng ai muốn giáp mặt hắn. Hắn biết mình kém giá hơn con chó ghẻ. Chó ghẻ còn có thể chế thành món nhậu cho những kẻ bạo gan say sưa lu bù. Hắn thì không!
            Lúc này là giữa trưa. Hắn vẫn trên lộ trình ăn xin, vừa là trên đường về nơi trú ngụ. Tối nay, dù thế nào hắn cũng phải giành giấc ngủ ngon. Hắn đang lết qua một ngã tư đường phố. Với bàn tay độc nhất còn lại, hắn chống xuống mặt đường, nghiêng người ở tư thế lao về phía trước. Cách di chuyển này, hắn vận dụng từ động tác bò nghiêng thời làm lính. Hoá ra đời lính cũng hữu ích tí ti cho hắn. Dưới nắng, hắn chậm chạp lết lên từng tý, từng tý. Chậm như ông mặt trời giữa trưa hè này, cứ lơ lửng hững hờ trôi mãi không qua khỏi đỉnh đầu hắn. Không khí nóng hầm hập. Nóng từ trời cao dội xuống, nóng từ mặt đường nhựa bốc lên, khiến quần áo hắn luôn đẫm mồ hôi. Lết mãi, rồi hắn cũng qua nổi nơi ngã tư dài chừng một trăm mét ấy. Không đủ sức tiếp tục cuộc hành trình, hắn phải nghỉ ngay bên lề đường, dọc rãnh nước thải. Hắn nằm úp mặt trên cánh tay, mắt nhắm nghiền. Nếu không nghe phì phò tiếng thở, người ta dễ nghĩ đó là một khúc xác chết.
            Hắn chết thì chẳng có gì đáng nói. Tình cảnh hắn, chết lúc nào cũng phải thôi. Hắn sống mới là sự lạ. Sự lạ ấy bắt đầu từ sau khi cái trại nuôi dưỡng phế binh bị phá bỏ. Hắn là kẻ vô gia cư, không nơi nương tựa, đành phải sống đời ăn xin nhục nhã, nhếch nhác, đã hơn ba năm nay. Cực là thế nhưng cũng may, hắn chẳng hề ốm đau trầm trọng bao giờ. Lúc mới sa cơ, đôi khi hắn nghĩ day dứt đến cháy lòng, song vẫn thấp thoáng tia hy vọng đổi đời. Chẳng là, phía bên kia họ từng nhồi sâu trong não bộ hắn rằng: Người bạn Mỹ cùng Chính phủ Cộng hoà không bao giờ bỏ mặc các chiến binh đã hy sinh xương máu vì Tổ quốc. Đây là sự cam kết danh dự! "Danh dự cái mẹ gì. Đấy chỉ là lời hứa hão, bịp bợm. Tao khốn khổ bao năm rồi, hỏi có ai tìm đến cứu vớt. Mà chẳng có chúng mày cứu, cái thằng tao vẫn sống. Tao còn sống lâu. Hãy mở to mắt ra mà xem tao sống. Tao sống thế nào?... Như con vật bị ruồng bỏ… Như loài sâu bọ… Thì trước sau tao vẫn là tao!". Có lần vì quá uất ức, hắn đã thét lên như thế. Liền đó là những tiếng nấc nghẹn tắc trong cổ họng. Nước mắt thì cạn khô sạch rồi.
            Nghĩ cũng thương thay thân phận hắn. Tuy đã có thời cầm súng, nhưng xét cho cùng, hắn là kẻ vô tội. Vì chưa một lần hắn nhằm bắn vào ai. Bị bắt buộc đi lính, hắn trở thành nạn nhân của cuộc chiến tranh tàn khốc. Nay chiến tranh qua lâu rồi, còn hắn vĩnh viễn cứ là nạn nhân. Cho dù trong tương lại nền y học nước này đạt thành tựu lớn đến đâu, cùng với khả năng kinh tế giàu có, thì cái thân hình què cụt và sự ăn ở khốn khổ của hắn vẫn vậy thôi. Bởi hắn đâu phải là đối tượng được cứu giúp. “Chỉ mong - hắn nói - tới ngày nào đó, mọi người không coi tôi là kẻ thù của nhân dân nữa. Vậy thôi!”. Kẻ thù!? Đó chỉ là một thứ quan niệm tạm thời. Liệu có dễ dàng xóa bỏ được không? Hay chẳng bao giờ?...
Nhưng hắn đã quyết, dù phải sống như con vật, như loại sâu bọ, thì hắn vẫn sống. Nên, vừa lết qua cái ngã tư dưới nắng nóng hầm hập, hắn đã có thể bình thản ngồi gậm nhấm ngon lành chiếc bánh bitquy bên gốc bàng cửa tiệm cà phê. Bất chấp cả vừa đó, một chiếc hon đa vội tránh tai nạn, đã băng lên vỉa hè, đâm xây sát khuỷu tay hắn. Ông ta xin lỗi, rồi vét túi đưa cho hắn hơn chục tờ giấy bạc hai trăm đồng - tiền của chính quyền cũ còn được lưu hành trong những năm đầu giải phóng. Số tiền không to nhưng đủ để hắn sống cầm hơi mấy ngày. Chứng kiến sự cố, mấy người ngồi tiệm cà phê thương cảm, ném cho hắn gói bánh dùng dở.
            Khi cả thành phố lên đèn hồi lâu, hắn mới nghĩ phải về nơi trú ngụ của mình. Dễ đến bốn đêm rồi, hắn chưa trở về. Ngày hôm nay - hắn nghĩ - gặp hoạ hoá ra hên. Có của ăn, cả của để dành. Lúc ngang qua cái vòi nước công cộng, như thông lệ, hắn ngửa cổ uống từng thôi ừng ực, rồi rúc đầu vào gội rửa tóc tai mày mặt cho thật đã. Thấy hắn đang say sưa thụ hưởng; những người đến lấy nước đành xách xô đứng chờ và thì thầm kháo chuyện về hắn. Khi con người tiều tuỵ bẩn thỉu đó rời bỏ độc quyền rồi, họ vội xông đến cái vòi, xô đẩy  nhau… vì nước(!) Lúc này, đương nhiên họ quên luôn hắn.
            Hắn thì đang lết đến nơi có tấm bê tông nhẵn nhụi, ấp trên cái cống thoát nước ra sông cái. Tại đó, hắn ưa ngồi hóng mát sau mỗi ngày kiếm ăn trở về. Nhìn sóng sông dập dìu, với gió nam thổi mát tận lục phủ ngũ tạng, hắn thấy khỏe luôn. Ngày hè không có những phút tận hưởng thế này, hắn chết mất. Tại đây, thi thoảng hắn còn đánh giấc ngủ ngon nữa chứ. Mở mắt ra, có lần thấy cả dải ngân hà chạy suốt bắc - nam, khiến hắn nhớ tận những ngày bé thơ sống bên cha mẹ. Đêm đêm, cả nhà hắn hay chơi trò đếm sao trời. Thật hồn nhiên, vô tư.
            Vậy mà nay, sự hồn nhiên vô tư ấy biến mất; chỉ còn nỗi đau chất chồng đeo bám cuộc đời hắn. Ngày. Đêm. Đi. Về. Nó đang theo về cùng hắn đây này. Như cái bóng ma ám ảnh. Song hắn dám đối mặt, dám thách thức. Dường như sự tàn nhẫn càng đè nặng thì ý chí bất phục tùng trong con người hắn càng nổi trội lên. Chẳng có mưu cầu gì khác, chỉ bởi hắn chưa muốn chết.
Vì thế hắn phải cúi đầu thưa dạ tất thảy các hạng người. Nếu chán sống, hắn đã bắt mấy đứa bỏ mạng rồi. Hắn chỉ cần thả một trái lựu đạn là xong. Mà, theo hắn, trái lựu đạn ấy phải nhằm vào những tên Tuần tra an ninh - khi cần. Còn những thứ như Cờ đỏ, Dân phòng, Tự quản… thì cho qua luôn. Bởi chúng chỉ là thứ tay sai cuối rốt của chính quyền đương thời này thôi. Duy nhất có bọn Tuần tra an ninh rắp tâm làm khổ hắn. Dù hắn vạ vật nơi xó xỉnh nào, bất kể sớm khuya, đều không yên. Nay ở thế đường cùng, hắn phải rúc vào cái ổ chó, nhưng vẫn bị hạch sách luôn luôn. “Vậy là sao? - hắn tự hỏi, và bình tĩnh tìm kiếm lời giải đáp cho mình vào một đêm khó ngủ - Là sao ư? Là người thừa của chế độ này. Nhưng họ lại không giết ta bằng một viên đạn hay  nhát dao. Mà họ giết bằng cách không chấp nhận ta được trú ngụ ở bất kỳ nơi nào, bởi rất nhiều lý do: làm cản trở giao thông, làm mất mỹ quan thành phố, vi phạm quy chế bảo vệ cầu phà… Rồi, nghiêm trọng hơn là, họ quy kết ta cố tình bôi nhọ chế độ. Như thế tức họ muốn ta phải chết!”.
Sau lời giải đáp, hắn thở dài thườn thượt, nhưng ý chí quyết sống vẫn nguyên vẹn. Bởi chẳng phải đến lúc này hắn mới biết mình bị ruồng bỏ. Lúc này, mọi điều hắn nghĩ chỉ là sự quy nạp bất chợt về những hiện tượng đau lòng mà chính quyền đương thời đối xử với hắn.  
            Hắn đã lê thân xuống được cái dốc đê thoai thoải, dài chừng chục mét, và đang ngồi nghỉ tại đó. Bên dưới là mặt sông. Những vệt sáng lấp lánh nối nhau toả dài theo dòng nước chảy. Trên đầu, xe cộ không ngừng qua lại cây cầu. Nghỉ lấy sức rồi, hắn chỉ việc nhoai chéo lên chừng nửa đoạn dốc vừa xuống là tới cửa hang - nhà hắn. Đêm dễ đã khuya. Nhiều sạp nhảy, quán bar không còn thứ ánh sáng lập loè xanh đỏ. Đèn trên cây cầu cũng đã tắt bớt. Nơi cửa hang ém sát ngay sau trụ cầu nên tối mịt tối mò. Hắn phải hướng nhìn vào đấy ít phút cho cặp mắt làm quen, thì mới dễ dàng lên được.
            Vừa tới gần cửa hang, hắn giật thót mình bởi có tiếng chó gầm gừ đe dọa. Chưa kịp định thần, chưa kịp thế thủ, thì một con vật đen xì, khá to, từ trong hang lao thẳng vào hắn. Hắn vội né. Con vật đang đà, vút qua. Song nó vẫn xé rách vai áo hắn. Tức thời, hắn nhận ngay ra nó là con chó đẻ. Vì cùng lúc có tiếng kêu rộn lên của đàn chó con. Phản xạ tự vệ xui khiến hắn phải nhanh chóng xử trí. Muốn thoát xa cái hang thật mau, hắn không thể bò lê chậm như rùa được, mà chỉ bằng độc cách là lăn. Nhưng đà tuột dốc sẽ dễ dàng ném hắn xuống dòng nước sâu. Cái khúc cơ thể hắn khó có cơ hội túm nổi vật gì để dừng lại. Với lại con đê đất ấy, ngoài màn cỏ lơ thơ, chẳng có cây cối nào để cho hắn túm. Mà cho dù hắn có gặp may để khỏi rơi xuống dòng sông, thì con chó đẻ kia không dễ buông tha đối thủ, khi trong nó đã sôi dòng huyết chiến nhằm bảo vệ đàn con. Đang lúc con chó hung dữ mất đà nhao xuống dốc, hắn này ngay ý nghĩ chiếm lĩnh cửa hang để giành lợi thế. Chắn được cửa hang, dù chỉ có một tay, hắn cũng dễ bề đối phó hơn. Thêm lợi thế nữa cho hắn là, trong hang còn hai hòn gạch gối đầu mấy cái bao đay, đều có thể dùng làm vũ khí chiến đấu được. Vậy mà lực bất tòng tâm. Mặc dù hắn đã dồn sức nhoai lên, nhưng vẫn không kịp giành lợi thế. Con chó đã lại sấn sổ lao đến. Hắn chống đỡ bằng cách dùng cái túi bạt quân dụng quật thẳng vào mặt nó. Sau mấy lần co kéo giữa hai đối thủ, cái túi bị con chó giằng mất, hắn quyết đánh bằng nắm tay trần. Mỗi lần nắm tay hắn vung lên, là điểm con chó nhằm vào triệt hạ. Nó cắn, cào, xé… lên tay, lên mặt, lên khắp người hắn. Cũng mấy lần con chó bị đấm thẳng đấm chéo vào mặt vào đầu, bằng cả sức mạnh tổng lực của hắn; khiến nó khiếp sợ, phải buông hắn ra, phải lùi trở lại. Sau mấy hiệp đấu, hắn cảm thấy khắp cơ thể tê buốt và rỉ máu, song không hề nhụt chí. Không thể dừng trận quyết đấu. Dừng lại là buông xuôi đầu hàng. Dừng, con chó hoang nuôi con dữ tợn này cũng không buông tha hắn. “Mà tao đâu phải kẻ thù của mày. Ngay những dứa rắp tâm hành hạ tao đến khốn khổ khốn cùng, tao còn chưa nghĩ nó là kẻ thù của mình cơ mà. Nhưng tao biết, sức chịu đựng của mỗi người đều có giới hạn. Chớ nên đẩy nhau vào thế đối đầu!”. Đấy là ý nghĩ bỗng vụt ra từ tâm não hắn, khi con chó đang gầm gừ trước lúc nhào trở lại đối thù của nó. Rồi, hắn bỗng nghe tiếng chó con nháo nhác, như gợi ý hắn phải quyết xông lên chiếm giữ cửa hang lần nữa. Ý đồ mà đạt được, hắn sẽ tóm cổ lũ chó con để làm vũ khí chống lại mẹ nó. Thử xem tình mẫu tử loài khuyển mã chúng mày thế nào?
Khi hắn vừa nghiêng người đổi hướng để nhoai lên, tức thời bị con chó mẹ bổ đến nhay ống quần kéo tuột trở lại. Cơn điên máu trong hắn vụt bùng lên. Hắn lựa thế, oằn người, vung mạnh cánh tay về phía con chó. Bàn tay hắn túm đúng cẳng trước  nó. Nó quẫy. Nó đạp. Nó cắn. Cốt giằng khỏi hắn. Nhưng làm sao khác được, bởi hắn đã quyết đấu bằng tất cả sức lực mình. Khi con chó ra sức cắm những cái răng sắc nhọn xuống vùng vai hắn, cũng là lúc hắn đang lựa thế chống lại nó bằng hàm răng mình. Phải lựa. Phải lựa. Và hắn đã tóm đúng thời cơ. tư thế hai kẻ kình địch ôm nhau giằng xé, hắn đã bập được hàm răng vào cổ họng con chó. Cổ bị giữ, một chân trước bị giữ, bởi thứ sức mạnh một mất một còn của đối thủ, khiến con chó không thể đổi hướng đổi chiều chống chọi. Hắn chống trả với tư thế thật bình tĩnh, chắc chắn. Còn con chó thì điên loạn cắn xé và không ngừng đạp giãy, như để cố thoát thân theo bản năng giống vật. Nhưng không thể khác được nữa. Bởi chính con chó đã gây nên cuộc chiến, khiến hắn phải quyết đấu với ý chí của một con người không còn gì để mất. Vì thế, chỉ khi nào bộ não u mê, trái tim ngừng đập, hắn mới chịu phần thua. Hắn biết mình đang nuốt qua họng, lúc mỗi mau hơn, từng giọt, từng giọt máu chó; cùng khi ấy, máu hắn cũng rỉ đẫm khắp người. Theo bản năng, con chó bị đau, càng cố gồng lên để thoát thân. Hắn thì quyết níu chặt đối thù đến cùng.
             Bỗng cả hai, con người và con vật như bị khóa chặt vào nhau, cứ trượt dần, trượt dần theo con dốc. Lúc nhanh. Lúc từ ừ. Có lúc chững lại. "Tao chết thì mày cũng khốn đốn. Mà tao có định tranh giành gì với mày đâu. Vì cùng đường, tao phải rúc vào cái hang ấy. Mày cố giành thì để tao đi, thế là xong. Mày tưởng dùng sức mạnh nạt được tao ư? Không! Mày đã buộc tao phải chống chọi. Chống chọi đến cùng". Đó là những ý nghĩ chót của cuộc đời hắn, trước khi có tiếng ùm dưới dòng sông cuồn cuộn chảy giữa đêm khuya mênh mông.
-  In trong tập Chuyện đời 1, Nxb Thanh Niên, 2003




















Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét