Hiển thị các bài đăng có nhãn Kịch. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kịch. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 3 tháng 12, 2014

ĐỂ ĐẾN... NƠI ĐẾN(*) - (Tiếp theo và hết)

CẢNH NĂM
  
            Nhà ông Thôn đứng trơ trọi một mình. Sau nhà là vườn cam trĩu quả. Gần sát đầu hồi nhà là con đường làng cũ; và khu vườn xanh xum xuê trải dài phía bên kia đường. Xa hơn, là nhà thờ đạo. Làng xóm không còn mái nhà nào khác, chỉ thấy ngổn ngang những đống gạch ngói, tre lá… Buổi sáng tinh sương. 

ĐỂ ĐẾN... NƠI ĐẾN(*) - (Tiếp theo)

CẢNH BỐN

            Phía cuối đồi Trăng gần sát núi Chẹn, đất đỏ mới được san ủi phẳng lì. Khu đất ở của gia đình ông Thư đang bộn bề gạch ngói, gỗ luồng… Sát trong là phên liếp che làm lều tạm trú.
            Nửa đêm về sáng, trời tối sẫm. Tiếng tắc kè khắc khoải từ xa. Tiếng gió hun hút làm trời lạnh càng lạnh. Trong lều, ông Thư cời lửa sưởi. Lại tiếng tắc kè, tiếng gió u u làm cho ông có lúc run lên.

ĐỂ ĐẾN... NƠI ĐẾN(*) - (Tiếp theo)

                                                             
                                        CẢNH BA

            Nhà ông Thôn trong làng. Ngôi nhà gạch ba gian hai chái buồng. Buồng đầu sát ngay đường làng. Sau nhà, vườn cam chín chắn ngang tầm mắt.
            Ngày đông, trời một màu xám.
            Trong buồng, ông Thôn ngồi lặng trên giường, chân thả xuống đất, tay cầm tờ giấy; lúc ghé sát vào kẽ hở cửa sổ để đọc, lúc lại hạ xuống, lầm lì ngồi im… Một con chuột bò đến gặm chân, ông vùng vằng khua đuổi, không dám gây tiếng động, không dám cả nói to.
            Từ xa, tiếng trống ếch thiếu nhi tưng bừng, có cả tiếng kèn đồng thổi theo nhịp trống… Và tiếng loa vang lên:
            “Thưa toàn thể bà con nhân dân Lộc An, cuộc bắt thăm nhận đất mới trên khu đồi Trăng sắp bắt đầu. Yêu cầu nhân dân tập trung ngay tại trụ sở Ủy ban xã”.
            Ông Thôn lắng nghe, hồi hộp, như bị sức hút của tiếng loa. Ông đứng lên, đến áp tai vào cửa ra vào nghe ngóng…
            Tiếng hô của đông đảo quần chúng: “Chào mừng lễ nhận đất ở mới của nhân dân xã Lộc An!” càng làm ông bồi hồi.
            Bà Thôn hấp tấp từ ngoài về, nhìn quanh, tiến lại bên cửa buồng khóa trái.

Thứ Hai, 1 tháng 12, 2014

ĐỂ ĐẾN... NƠI ĐẾN(*) - (Tiếp theo)

 CẢNH HAI
  
                   Đồi Trăng. Gần 30 năm trước.
                Đây là một ngọn đồi trong dãy đồi Trăng, bên dòng sông Mã. (Sông ở phía trước - phía khán giả). Đồi như bát úp, thấp cao. Phía xa là những ngọn núi: Độc, Eo, Chẹn… nhô cao hơn hẳn những mỏm gò đồi.
                Đất đồi khô cằn, sỏi mòn, một vài bụi sim thưa thớt và đồng cỏ xác xơ…
                Một sớm mùa đông sương mù, ánh nắng yếu ớt, pha màu sương đục.

ĐỂ ĐẾN... NƠI ĐẾN(*)

Lời NXB: “Để đến… Nơi đến” là vở kịch cuối cùng của Nhà soạn kịch Lộng Chương. Vở được khởi bút vào năm 1996. Tuy nhiên, cho đến khi tác giả qua đời (26/6/2003), vở “Để đến… Nơi đến” vẫn chưa được hoàn thành. Lý do bởi sức khỏe không cho phép ông thực hiện xong ý định của mình.
“Để đến… Nơi đến” đề cập tới viễn cảnh đổi thay tại một vùng nông thôn nước ta vào đầu Thế kỷ XXI, khoảng những năm cuối thập niên thứ ba. Viễn cảnh đổi thay chỉ được tác giả dàn dựng thoáng qua ngay khi vào kịch, để hướng người đọc (người xem) quay trở lại những vất vả khó khăn ở thời kỳ đầu thực hiện chuyển đổi cách làm ăn “Để đến” cái đích là “Nơi đến”.
Khó khăn chưa thấy từ trên trời đổ xuống, cũng chưa thấy từ phía kẻ thù; mà, qua 5 cảnh kịch ta mới biết từ người dân, từ ông đội trưởng sản xuất, từ vị chức sắc nhỏ trong nhà thờ Thiên chúa giáo gây nên.
Đương nhiên sự thắng lợi đạt được  là do sức mạnh vượt trội từ đông đảo cán bộ các cấp và người dân trên địa bàn - nguyên nhân tất yếu, ta từng gặp trong mọi tác phẩm văn học kịch và ngoài đời.
Mặc dù “Để đến … Nơi đến” chưa trọn vẹn, song nó đã mở hướng đi khá rõ cho câu chuyện. Cho dù đến cuối thập niên thứ 3 - Thế kỷ XXI này, ta chưa thấy vùng nông thôn nào đạt tới viễn cảnh đẹp như trong kịch bản, thì điều đó cũng chẳng đáng phàn nàn. Bởi, sự lãng mạn nhìn nhận tương lai của Nhà soạn kịch Lộng Chương là phù hợp quy luật phát triển xã hội. Và, ta rất nên trân trọng ý tưởng Tác giả, khi ông hạ bút khởi thảo kịch bản này đã ở tuổi 78, mà sức khỏe thì suy giảm nhiều!
Nhà xuất bản cho in “Để đến… Nơi đến” trong Tập kịch này cũng là thuận theo nguyện vọng của những người thân trong gia đình Nhà soạn kịch Lộng Chương!

Thứ Tư, 5 tháng 11, 2014

HỘI THỀ(*) - (Tiếp theo và hết)

   Hay là ĐƯỜNG ĐẠI NGHĨA       
  Chèo - Kỷ niệm 600 năm sinh Nguyễn Trãi           
Đường lên Côn Sơn
                                                 
                                      CẢNH BỐN
                                       HỘI THỀ

                                    Màn nhì mở
Một khung cảnh quèn cao rừng nghiến rừng lim.
Lê Sát và Lê Ngân, vuông vức dáng người, rắn đanh khuôn mặt, tay rìu, tay cuốc, từ quèn cao xuất hiện.

Lê Sát: Bụi cát lầm vai áo
              Mồ hôi đẫm ngang lưng
              Rừng Lam Sơn phá núi dựng quân doanh
              Buổi dấy nghĩa những đêm mong ngày đợi!
Lê Ngân: Anh Lê Sát này…
                  Anh lúc nào cũng bừng bừng như lửa cháy
                  Phải yên lòng để Chủ soái lo toan…
                  Đánh giặc không phải chỉ cần có tướng có quân   
                  Mà còn phải có mưu thần tài giỏi!

HỘI THỀ(*) - (Tiếp theo)

 Hay là ĐƯỜNG ĐẠI NGHĨA
Chèo - Kỷ niệm 600 năm sinh Nguyễn Trãi
Đường lên Côn Sơn

CẢNH BA
HƯỚNG NGHĨA

Màn nhì mở: Cảnh Côn Sơn, tùng trúc xanh rậm, đường quèn bậc đá rêu phong, cây dại hoang vu…
(Tiểu Đồng vác bó cành tùng, tay xách xâu măng trúc, đến bậc đá lên quèn đứng lại, hạ bó củi và xâu măng xuống, gạt mồ hôi trán).

Tiểu Đồng:
Vỉa Hồi tiếu
            Qua non nhặt mấy cành tùng
Đem về làm củi nấu bát canh măng rừng để thầy xơi!
Nói
Ối dà!
            Leo mấy cái quèn mà toát cả mồ hôi
            Thế mới hay kiếm được miếng ăn quả là vất vả!
            Tôi là Tiểu Đồng cháu ông Giám mã
            Được đi theo thầy, thoáng đã ba năm.

Thứ Ba, 4 tháng 11, 2014

HỘI THỀ(*) - (Tiếp theo)

                 
Đường lên Côn Sơn
  Hay là ĐƯỜNG ĐẠI NGHĨA       
             Chèo - Kỷ niệm 600 năm sinh Nguyễn Trãi    

                           CẢNH HAI
                        MUA CHUỘC

 Màn nhì mở: Cảnh trong ngục đêm tàn.

Nguyễn Trãi:
Ngâm
Gió thoảng vời xa tiếng oán hờn
            Ngục tù thôi thúc chí vân lung
            Hai vai trĩu nặng thù chưa trả
            Đêm lại canh tàn rạng núi sông.
            Tôi tuân mệnh cha già, Đông Quan trở lại
            Nuôi chí tiêm cừu tụ hội lòng dân
            Đánh đuổi quân thù giành lại non sông
            Chữ hiếu không tròn, chữ trung phải vẹn…
Đường dấy nghĩa có thành có biến
Lẽ xưa nay đâu phải chuyện bất ngờ

HỘI THỀ(*)

       
Đường lên Côn Sơn
 Hay là ĐƯỜNG ĐẠI NGHĨA
  Chèo - Kỷ niệm 600 năm sinh Nguyễn Trãi
                            
                                   Nhân vật

Đao phủ
Lính Minh
Trương Phụ
Nguyễn Trãi
Ngọc Khanh
Hoàng Phúc
Những người bị tử hình
Giám mã
Tiểu Đồng

  ĐỒNG CA GIỮ NƯỚC 
Lương Nhữ Hốt
Lính 1
Lính 2
Trần Nguyên Hãn
Lê Sát
Lê Ngân
Lê Thạch
Lê Lợi
   
Dân Việt Nam bất khuất
Nước Việt Nam anh hùng
Riêng trời Nam một cõi non sông
Đã từng chôn sống lũ cuồng chinh xâm lược
Kẻ nào đó vội quên bài học trước
Thì vạ sau sẽ rầm rập đuổi sau lưng!

Bảo cho bè lũ Bắc Kinh
Tổ tiên bay đã vùi thây chốn này!

Thứ Năm, 30 tháng 10, 2014

TÌNH SỬ LOA THÀNH(*) - Chèo (Tiếp theo và hết)

                                                HỒI BỐN
Thành Cổ Loa nhìn từ trên cao

             Loa thành thất thủ 
            Một buổi chiều xẩm tối, trong cảnh hoang tàn đổ nát của can qua, lầu Công chúa Mỵ Châu vẫn y nguyên như cũ, chìm trong sự im lặng đến rợn người.
            Đài Nỏ bị phá hưu quạnh, in bóng sứt mẻ trên nền trời đỏ quánh loang màu máu.
            Bỗng tiếng cồng rền rĩ như vẳng từ một cõi sống vật vờ nào đó, âm ỉ trong gió lạnh và ngân dài theo tiếng hát chiêu hồn ảo não…
            Tiếng hát hiêu hồn mơ hồ…
 Rỉ vọng
            Hỡi ơi, thức dậy quỷ thần
            Mười phương trời rộng, chín tầng đất sâu
            Rùa vàng, hồn ở nơi đâu    
 Vượt qua cồn cát nương dâu mà về

TỈNH SỬ LOA THÀNH(*) - Chèo (Tiếp theo)

                                                          HỒI BA
Thành Cổ loa nhìn từ trên ca
Cảnh 1 
Trở lại huê viên trước lầu Công chúa.
Hoàng hôn một ngày xuân u ám, chuyển vào một đêm trăng hạ tuần u ám.
  
MÀN MỞ
 (Nàng Mây buồn rượi đứng bên bờ giếng, bồn chồn chờ đợi).
Mây: Mã Khởi chàng ơi!
Sử rầu
            Trời hạnh phúc, trời yêu thương bát ngát.
            Anh chợt làm gió nhẹ đẩy mây đi
            Rồi bỗng dưng trong đau đớn chia ly
            Anh lại xé mây tan từng khúc ruột…  

TÌNH SỬ LOA THÀNH(*) - Chèo (Tiếp theo)

                                                                HỒI HAI
Thành Cổ Loa nhìn từ trên ca 
Cảnh 1         
Chính sảnh Bắc sứ doanh.
            Cửa lớn quay vào trong, trông ra một vườn mai, với những cây lão mai gồ ghề, khúc khuỷu, đang kỳ nở hoa. Nền vĩnh cảnh Loa thành.
            Phía ngoài sảnh, lá cờ đại thêu chữ “Triệu” đen lánh, treo cao trên cột.
            Nội sảnh: Một bên kê sập son trải da cọp, phía trên tường sát sập treo một thanh gươm lệnh vỏ nạm bạc, một bên bày giá cắm đao, thương, phủ, việt, sáng loáng.
            Trước giá binh khí có mấy chiếc cẩm đôn.

TÌNH SỬ LOA THÀNH(*) - Chèo

Thành Cổ Loa nhìn từ trên cao
Nhân vật
Sái Bân                       Quan hầu Triệu Đại phu
Cao Lạc Hầu             Thái tể nước Âu Lạc
Quách Lôi                  Võ tướng Âu Lạc
Quách Vũ                  Võ tướng Âu Lạc
Mỵ Châu                    Công chúa, con gái Thục                                                    An Dương Vương
Nàng Mây                  Tỳ nữ của Mỵ Châu
Nàng Suối                  Tỳ nữ của Mỵ Châu
Trọng Thủy               Hoàng tử Triệu, con Vương                                                  Triệu Đà
Triệu Đại phu            Quân sư nước Triệu, tôn sư Trọng Thủy
Mã Khởi                 Tùy tướng của Trọng Thủy, 
                       mẹ người Âu Lạc, bố người Triệu

Thứ Hai, 20 tháng 10, 2014

ĐỔI ĐẦU HEO(*)

Hài kịch một màn

             Không gian và thời gian không cố định.
            Thời điểm tranh tối tranh sáng, lúc bọn gian thương thực phẩm đang tranh chấp thị trường, chống đối tổ chức quản lý quốc doanh.

             Nhân vật biểu tượng gồm:

1.      Chủ vựa heo - béo núc, lì lợm đến trâng tráo;
2.      Vợ chủ vựa - mảnh người, đanh đá, ngỗ ngược kiểu thớt heo đầu chợ;
3.      Con gái - mũm mĩm như một ả heo sữa, sống thả dàn;
4.     Trùm lò mổ - rất gợi dục với những bộ phận cơ thể bơm độn qua mỹ viện; đặc biệt luôn đeo cặp kính phản quang, trông như đeo hai ký hiệu đồng đô la;
5.      Đồ tể - tay săm, mặt thẹo, lộ rõ dân đao búa;
6.      Và, bốn đầu người nói điện thoại, cơ sở màng lưới bao vây thị trường của chủ vựa.

Chủ Nhật, 5 tháng 10, 2014

NHỮNG TRỤ CẦU VỮNG CHẮC(*)

 (Tiếp theo và hết)
Ảnh minh họa
ĐOẠN BỐN

            Trở lại cảnh ĐOẠN MỘT: Hầm bám trụ của Ban chỉ huy Đội cầu ở ngay đầu mố cầu A.
            Ánh sáng trở lại: Trời tối đã lâu.
            Từng đợt oanh kích với tiếng bom đạn nổ chói tai và tiếng máy bay địch lượn vòng điên loạn.
            Ánh lửa bom lóe cao tứ phía, hắt từng luồng sáng chập chờn vào hầm.
            Vũ Thắng đứng ở cửa hầm, lặng lẽ giữa sự xáo động chung quanh. Vũ Thắng định quay vào hầm thì chị Hiền gánh nước tới.

NHỮNG TRỤ CẦU VỮNG CHẮC(*)

(Tiếp theo)
Ảnh minh họa
ĐOẠN BA
  
            Sương mù mỏng dần. Nắng từng tia vàng nhợt chiếu chếch xuống căn nhà nhỏ dựng lọt vào sườn đồi - nhà ở của ông Thành.
            Phía đối diện nhà ông Thành nhô ra một khoảng hiên thuộc dãy lán - nơi làm việc và hội họp của Đội cầu.
            Khắp đồi có cây và tre um tùm. Trên khoảng sân giữa hai nhà, từng đống dây cáp và tà vẹt xếp sát nhau. Bên cạnh là một cái chân tời cũ kỹ, han gỉ.
            Một khẩu hiệu treo sát vách đồi: Địch đánh ta cứ đi!
            Ánh sáng trở lại. Vĩnh Khang và Vũ Thành đang nói chuyện.

NHỮNG TRỤ CẦU VỮNG CHẮC(*)

 (Tiếp theo)
Ảnh minh họa
ĐOẠN HAI

            Một rẻo đồi cây, xa đường lớn, nơi Đội cầu đóng quân.
            Tại Bệnh xá của Đội cầu Cấm: Một đầu nhà dựng khoét sâu vào sườn đồi. Bên sườn đồi có mấy hầm trú ẩn hàm ếch.
            Thời gian: Trời gần sáng, có sương mù.
            Tiếng máy bay tuần thám qua lại bất thường. Đèn dù địch thả, sáng xanh lè, lấp loáng cả bầu trời đêm.
            Pháo địch từ ngoài biển bắn vào từng chập, như cầm canh.

NHỮNG TRỤ CẦU VỮNG CHẮC(*)

Nhân vật

Vũ Thành - Đội trưởng Đội cầu, ngoài 50 tuổi
Trần Mạnh Hưng - Kỹ sư cầu, Đội phó, trên 35 tuổi
Vũ Thắng - Kỹ sư trưởng mới ở nước ngoài về, trên 30 tuổi
Vũ Minh - Lái tàu, ngoài 30 tuổi
Cầm Long - Công nhân, ngoài 20 tuổi
Trịnh Cương - Công nhân hàn, trên dưới 25 tuổi
Nguyễn Thế Hoàng - Công nhân kích kéo, ngoài 20 tuổi
Vĩnh Khang - Phó ban chỉ huy tuyến phía Nam, ngoài 45 tuổi
Hoàng Thái - Chỉ huy xe thồ, ngoài 30 tuổi
Phương Liên - Y sĩ đội cầu, dưới 30 tuổi
Lan Thanh - Trung cấp kỹ thuật, Bí thư Đoàn Thanh niên Lao động, 25 tuổi
Sen - Còn gọi là Họa mi rú Riềng, thanh niên xung phong (TNXP), trên dưới 20 tuổi
Mừng - Đội trưởng TNXP 339, 25 tuổi
Lý - Đội trưởng thuyền nan, trên 25 tuổi
Chị Hiền - Được gọi là chị Cả, cấp dưỡng Đội
Mỹ
Dung
Cố Vui
Và khối quần chúng trường diễn: Công nhân cầu, thanh niên xung phong, xe thồ…

Thứ Tư, 1 tháng 10, 2014

TỐI BA MƯƠI TẾT(*)

(Tiếp theo và hết)
(Ông Tích đi nhanh ra, bước từng bước dài, lưng khom khom, tay ôm ngực ho khục khục. Bà Tồn đứng lặng nhìn theo, vẻ mặt bồn chồn, lo lắng).
Bà Tồn: (Một giây suy nghĩ, nói một mình) Mới ngoài bốn chục tuổi đầu mà quá ông lão. Vợ con thì quen nết, ăn trắng mặc trơn… (Tiếng ông Tích tại nhà mình).
Tiếng ông Tích: Được, chị để đấy cho chú…
Bà Tồn: (Nói một mình) Những tưởng chú ấy về đây anh em gần gũi, điều hơn lẽ thiệt, chú ấy giúp đỡ thày con Tỉnh… Nào hay, cây đã lặng, gió lại rung…

TỐI BA MƯƠI TẾT(*)

                                                       Kịch hoạt kê một cảnh
Những người trong kịch


Ông Tồn
Ông Tích - Em trai ông Tồn, nhân viên tài vụ một nhà máy, mới nghỉ mất sức.
Tỉnh - Con gái ông Tồn, 19 tuổi
Bà Tồn
Bà Tích
Em Lũy - Con ông Tích, 13 tuổi
(Một vài ba em bé trạc tuổi Lũy, cả trai và gái)

            Nhà ông Tồn tại một thôn cách thị xã khoảng mười cây số. Cuối chiều ba mươi tết.