Chủ Nhật, 2 tháng 8, 2020

Tọa đàm 100 năm Nhà viết kịch Lộng Chương (1918-2018)

GIẢI THƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VHNT

TÌNH SỬ LOA THÀNH ĐÃ CHO TÔI NHẬN THỨC MỚI

VỀ SỰ SÁNG TẠO NGHỆ THUẬT


NSND LÊ TIẾN THỌ

Chủ tịch Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam


Năm 1979, Đoàn Tuồng Bắc Trung ương, nay là Nhà hát Tuồng Việt Nam dựng vở “Tình sử Loa thành” của tác giả Lộng Chương, do NSND Nguyễn Ngọc Phương đạo diễn. Nhân vật Mỵ Châu được giao cho NSND Mẫn Thu đảm nhận. Còn Trọng Thủy - một vai diễn rất khó đối với nghệ thuật Tuồng, NSND Ngọc Phương không biết phân cho diễn viên nào. Ông phải đưa vấn đề này ra Hội đồng Nghệ thuật trao đổi để tìm người thủ vai. Và, ông cũng ngỏ ý muốn giao vai đó cho tôi thể hiện. Nhưng Hội đồng Nghệ thuật có nhiều ý kiến phản đối, vì cho rằng vai Trọng Thủy là kép phong tình - một dạng vai như kiểu Lã Bố trong vở Phụng Nghi Đình - không phù hợp với tôi. Trước nay, sở trường của tôi thường thể hiện các nhân vật kép văn, lão văn, rất khác với vai có tính chất phong tình. Cuối cùng, NSND Ngọc Phương và tác giả Lộng Chương, sau khi bàn bạc đã quyết định giao vai Trọng Thủy cho tôi. 

 “Tình sử Loa thành” của Nhà viết kịch Lộng Chương tuy chưa hẳn là kịch bản Tuồng, nhưng tác giả đã khai thác được nhiều trò diễn, với nhiều khía cạnh của tâm lý nhân vật, đặc biệt là những lớp phân thân giằng xé nội tâm giữa tình yêu và nghĩa vụ đặt trên vai Trọng Thủy, vì thế vở diễn rất có chiều sâu và hấp dẫn người xem.

Được sự động viên khích lệ của đạo diễn và tác giả kịch bản, tôi say sưa lao vào công việc. Cái lúng túng và cũng là điểm yếu của tôi là phần múa trong nhân vật mình sắm vai. Đương nhiên, tôi phải học, phải luyện, để làm sao hài hòa được từ ánh mắt đến những động tác khoa trương của đôi hia và đôi lông trĩ trên mũ đội đầu… Mặc dù vậy, tôi vẫn ấp ủ một quan niệm khác, đó là chống thói quen bắt chước mô típ truyền thống cũ. Bởi vì, mỗi con người ngoài đời cũng như mỗi nhân vật trong vở diễn đều có một đời sống riêng biệt cơ mà. Thế nên, khi tiếp cận tác phẩm, nghệ sĩ phải nghiền ngẫm, khắc họa nhân vật sao cho nổi bật được tính cách riêng, nhất là đối với các nhân vật lịch sử. Nếu không, ta sẽ sa vào lối dập khuôn, khiến cho nhân vật Trọng Thủy na ná giống kép phong tình Lã Bố. Và tôi đã mạnh dạn trao đổi với đạo diễn Ngọc Phương cùng tác giả Lộng Chương, được hai ông hết sức ủng hộ ý tưởng này. Đồng thời vở dễn cũng được tác giả chính sửa lại, với những tình tiết bạo liệt hơn, phù hợp kịch tính trong Tuồng. Tôi nhớ nhất lớp diễn giữa nhân vật Triệu Đại Phu giao trọng trách cho Trọng Thủy, là phải lấy cắp bằng được chiếc nỏ thần để đưa về Bắc quốc. Ở màn diễn này, ngôn ngữ đối thoại bằng thơ đã tạo nên một lớp Tuồng đầy xung đột. Nhưng từ khi Trọng Thủy gặp Mỵ Châu, được nàng yêu say đắm, chàng đã quên hẳn việc lớn. Sau này gặp lại Triệu Đại Phu, bị Đại Phu khích tướng, máu Đại Hán trong người Trọng Thủy lại sôi lên. Và, chàng đã lừa Mỵ Châu để bước lên đài nỏ. Nhưng… vì Trọng Thủy cũng rất yêu Mỵ Châu, nên tác giả kịch bản và đạo diễn đã “có cớ” để tạo được nhiều “trò” cho Trọng Thủy “thả sức” phô diễn tính hai mặt trong con người hắn, giữa sự lựa chọn hành động và không hành động…

Mặt khác, kịch bản “Tình sử Loa thành” do tác giả Lộng Chương sáng tác trong giai đoạn đất nước ta có biến động rất lớn ở vùng biên giới phía Bắc (1979), nên ông đã gửi gắm được nhiều điều hay vào nhân vật Trọng Thủy. Đó là: Sự trả giá của chiến thắng, tấn bi kịch của sự mất niềm tin, mộng vương bá vương quyền đổ vỡ… Và, cái kết cuối cùng dành cho Trọng Thủy khi quay lại thành Cổ Loa, nơi mà dân Âu Lạc đã yêu thương đùm bọc hắn trong những ngày gửi rể, đó là cái chết! Đây là một lớp Tuồng lịch sử hay, mẫu mực, có “chỗ đứng” trong suốt bao năm qua của Nhát hát Tuồng Việt Nam. Với ngòi bút điêu luyện trong xử lý ngôn từ, trong khai thác tâm lý nhât vật, tác giả Lộng Chương đã thể hiện rất thành công, không chỉ với Trọng Thủy - nhân vật chính, mà với cả vở diễn “Tình sử Loa thành”.

Trọng Thủy hoang mang vì đổ vỡ niềm tim, sau khi theo dấu chiếc áo Thiên nga đi tìm Mỵ Châu không thấy, chàng kéo lê thanh gươm quay về nơi giếng ngọc với bao nỗi chán chường. Mang tâm trạng của kẻ chiến bại, trong cuộc chinh phạt bằng dã tâm đê hèn, Trọng Thủy khi nhìn thấy cảnh điêu tàn sau chiến tranh trên mảnh đất Cổ Loa, đã thốt lên:

“Đất Âu Lạc bốn bề hỗn mang dâu bể

Chỉ có nơi đây còn nguyên vẹn như xưa

Mỵ Châu ơi!

Lầu còn đây, giếng ngọc còn đây, sao người không thấy nữa…

Dấu ngựa chiến mấy ngày đêm ròng rã

Để đuổi vua Thục tới chân non Mộ Dạ

Trắng toát lông chim sẵn dấu chỉ đường

Tan tác dặm dài áo múa công nương

Vó ngựa đường cùng, vua Thục đã dùng gươm tự sát.

Chẳng bận đến ta, nhưng đáng căm đáng ghét

Là lão vua đã giết chết Mỵ Châu

Mỵ Châu ơi, ta có phụ nàng đâu

Sao chẳng sống cùng ta để hưởng phần vinh hiển…

Từ trong hương khói của am thờ, Mỵ Châu hiện ra. Trọng Thủy những tưởng mình đang bê gối đuổi theo bóng Mỵ Châu chập chờn… Và tiếng hát của nàng cất lên trong điệu khách hồn bảng lảng, nghe đến xé lòng.

Mỵ Châu: Trọng Thủy chàng ơi! Những tưởng trăm năm, duyên thắm lứa đôi vui trăm họ.

Trách gì tơ nguyệt, nhưng vì ai bội ước… nỗi hận này dẫu thác còn mang.

Trọng Thủy vẫn trong tâm trạng thảng thốt, lao theo bóng Mỵ Châu đến bên giếng ngọc, cốt tìm được người xưa, bỗng gặp Cao Lạc Hầu và những người dân Âu Lạc chặn lại. Trọng Thủy vung gươm, định xông lên chém. Lão tướng Cao Lạc Hầu liền chỉ mặt Trọng Thủy mắng rằng:

“Trọng Thủy kia! Muốn đọ gươm?… lát nữa khó gì đâu!

Nhưng trước khi Thế tử Triệu rơi đầu,

Đôi mắt nên nhìn, cái đầu nên nghĩ…

Bởi tin người nên nàng Mỵ Châu một lòng chung thủy

Dân Âu Lạc đã đem trâu cày làm lễ cưới cho ngươi…

Vậy mà… Ân tình đó, ngươi trả bằng manh tâm loài dã thú!

Trọng Thủy vung gươm chém loạn xạ. Nhưng Lão tướng Cao Lạc Hầu và những người dân Âu Lạc đã kịp rời khỏi đất Cổ Loa. Trọng Thủy cô đơn thét trong hoang tưởng:

Thanh gươm này chưa giúp ta làm nên nghiệp đế

Hùm đã sa cơ… Người vây bốn phía

Sao toàn quân Âu Lạc quanh ta?

Kìa! Đài nỏ thần ào ạt bắn tên ra

Quân Thục chết? Ha ha… Không!... Quân Triệu chết! (ôm mặt khóc)

Gió lạnh thế này… Trời! Bóng đêm mù mịt

Nghe ghê hồn tiếng cú giữa đêm đông…

Trọng Thủy hoảng loạn, lại rút gươm lao đi bốn phía chém loạn xạ. Nhưng rồi bất lực, hắn vất bỏ gươm và rắp tâm tìm kiếm Mỵ Châu trong tâm trạng thất vọng mơ hồ:

Mỵ Châu! Mỵ Châu ơi!

Ta mặc hết, giờ đây ta mặc hết!

Đã mệt mỏi cả đôi tay chém giết

Hát nam: Chém giết đôi tay mệt mỏi

Văng vẳng cồng rung gọi chúng ta

Múa đi cánh áo thiên nga

Hoa rơi lả tả hay là máu rơi?

Liền đó, Trọng Thủy thất thểu lê bước tới bên giếng ngọc, nhìn xuống giếng, nói với Mỵ Châu:

Mỵ Châu ơi! Hãy dìu ta xuống đáy giếng sâu

Mò lấy nghiệp đế vương

Mò lấy cảnh sang giàu…

Mỵ Châu!…

Và, Trọng Thủy lao đầu xuống giếng ngọc tự vẫn.

Qua lớp diễn trên, chúng ta thấy tác giả Lộng Chương đã khai thác một cách tinh tế, tâm trạng của một kẻ mơ mộng ngai vàng (không bằng sức mạnh quân sự, mà bằng sự phản bội lừa lọc) để rồi kết cục dẫn đến bi kịch là cái chết của Trọng Thủy - cái chết của kẻ mất lòng tin. Về ngôn ngữ, tác giả đã có những phá cách trong sử dụng luật biền ngẫu giữa vê trống mái của nghệ thuật Tuồng. Song, người nghe hát (và xem diễn) Tuồng vẫn thấy rõ niêm luật của dòng thơ cổ. Đây là một điểm mạnh trong nhiều điểm mạnh của tác giả Lộng Chương.

“Tình sử Loa thành” do Đoàn Tuồng Bắc diễn đã gặt hái thành công lớn. Đặc biệt là, vai Trọng Thủy được nhiều người xem tỏ lời khen ngợi. Với cảm xúc cao, NSND Lê Huy Quang đã tức thời viết bài thơ “Nhân vật và cuộc đời”, để ca ngợi tác giả kịch bản và các nghệ sĩ biểu diễn:

Hừng hực vai Tuồng - bê, quay, xiến, té

Roi ngựa vút lên câu hát xé lòng

Tình yêu hỡi trắng trong và bi kịch

Vọng mãi ngàn năm nhịp đập trái tim”…

Tuồng “Tình sử Loa thành” ra đời đã ba mươi năm, đã có đến hơn ngàn xuất diễn trong khoảng thời gian những năm 1980. Nghĩ lại thấy rằng, nội dung vở diễn vẫn luôn mang tính thời sự đối với ngày hôm nay. Và, với tôi, vai Trọng Thủy đã là cái “mốc” đánh dấu bước đường phát triển nghệ thuật của cuộc đời mình. Tuy nhiên, không phải cứ có kịch bản hay, ắt có vở diễn hay trên sân khấu. Bài học của tôi là: Dù nghệ thuật Tuồng vốn có nhiều khuôn mẫu, nhiều dạng vai truyền thống như Đào, Kép, Tướng, Nịnh, Lão, Mụ, Hài… được định hình theo “khuôn vàng thước ngọc”, nhưng không nên dập khuôn bắt chước nó trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Từ nhận thức ấy, đã giúp tôi hoàn thành xuất sắc vai Trọng Thủy trong “Tình sử Loa thành”. Nói cách khác là: “Tình sử Loa thành” đã xây dựng cho tôi nhận thức mới về sự sáng tạo nghệ thuật.

Lời cuối, tôi lại xin nói về Tác giả Lộng Chương: Cuộc đời sáng tạo nghệ thuật của ông là bài học quý giá cho các thế hệ nghệ sĩ trong sáng tác kịch bản cùng nhận thức về tính kế thừa, phát triển nghệ thuật Tuồng truyền thống Việt Nam. Chúng ta hãy biết ơn và ghi công lớn cho ông trong lịch sử sân khấu Cách mạng Việt Nam.

Nhà hát Lớn Tp Hà Nội, 7/1/2018

 


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét