Thứ Sáu, 21 tháng 8, 2020

Tọa đàm 100 năm Nhà viết kịch Lộng Chương (1918-2018)

 GIẢI THƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VHNT

        ĐỌC LẠI “HẦU THÁNH” CỦA LỘNG CHƯƠNG

Pgs. NGUYỄN BÍCH THU

Nhà nghiên cứu phê bình văn học

   Nhà văn - Nhà viết kịch Lộng Chương không chỉ là “người đặt nền móng và là danh thủ hài kịch hiện đại Việt Nam”, mà ông còn là người kế tục xứng đáng truyền thống văn chương trào lộng, từ tiểu thuyết phóng sự đầu tay Hầu thánh (NXB Cộng lực, H, năm 1942). Có lẽ những trang viết phối trộn giữa phóng sự và tiểu thuyết về chuyện hầu thánh, hầu bóng của lớp người trung lưu trước năm 1945, đã tạo chất liệu cho tiếng cười với nhiều cung bậc khác nhau, ngày càng đậm đặc, đã làm nên “thương hiệu” Lộng Chương sau này. Quẫn - một tác phẩm tiêu biểu, tràn ngập chất trào lộng của Lộng Chương đã trở thành mẫu mực cho thể hài kịch hiện đại Việt Nam.

     Ngày Hầu thánh hiện diện trên văn đàn, người khai sinh nó mới ngoài hai mươi tuổi. Vậy mà trên từng trang tiểu thuyết, người đọc vẫn cảm thấu một giọng văn giàu trải nghiệm; với góc nhìn tinh tế, nhậy bén, từ nhiều góc độ, chiều cạnh; và cách dụng ngôn hoạt, gọn, gần với lời thoại của kịch; đã kích thích trí tò mò của người đọc từ chương đầu đến chương cuối của thiên truyện. Chuyện hầu thánh, hầu bóng, (hay hầu đồng) từng nở rộ trong đời sống người Việt vào giai đoạn trước năm 1945. Từ 1945 đến 1975, có quan niệm cho rằng hầu đồng là mê tín dị đoan, nên bị cấm đoán. Nhưng từ sau 1986, nhất là vào những năm đầu thế kỷ 21, chuyện hầu đồng lại được gắn với văn hóa tâm linh - một dạng thức tín ngưỡng của người Việt, nên việc phục hồi nó trở thành vấn đề thời sự. Đặc biệt là, từ khi tín ngưỡng thờ Mẫu được UNESCO vinh danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại, thì việc hầu bóng - hầu đồng càng trở thành vấn đề “nóng”, bởi nó là một hình thức diễn xướng chủ yếu của tín ngưỡng này. Cũng theo tín ngưỡng văn hóa tâm linh người Việt, hầu bóng - hầu đồng là một cách thức giải tỏa các dồn nén, bức xúc, lo âu của con người trong đời thường; giúp họ cân bằng trạng thái tâm lý, tình cảm, tìm được sự an nhiên trong cuộc sống. Nhưng bên cạnh tính tích cực và hiệu quả, hầu bóng - hầu đồng cũng không tránh khỏi tiêu cực, khi nó bị lợi dụng để trục lợi, buôn thần bán thánh, mê tín dị đoan.

       Khi Hầu thánh của Lộng Chương ra đời, tín ngưỡng thờ Mẫu chưa được gọi là Di sản văn hóa phi vật thể. Và trong hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ, nó đưa tới hệ lụy hơn là giá trị. Nên không phải ngẫu nhiên, trên trang đầu sách Hầu Thánh, có lời đề tựa đầy ẩn ý: “Tặng các bà đồng non và các cô tấp tểnh ra đồng.”

       Trong cảm quan sáng tác của Lộng Chương, cùng với sự chi phối của thể loại, tác giả nghiêng về cái nhìn thế sự, đời thường, với ý thức phơi lộ, tái hiện những bí ẩn và góc khuất của một số kẻ sống “dị biệt”, lệch chuẩn về giới. Đó là những người đàn bà tập tễnh bước “ra đồng” nhanh chóng nhập cuộc, rồi như bị “bỏ bùa”, si mê đến man dại, bởi “cái lòng sùng bái đã thắng, để các bà đồng có thể vượt hết những nỗi khó khăn, mà yên vị ngồi hầu thánh với cả một lòng hả hê”(*). Một trong những nhân vật tự biến đổi và tha hóa, nhận về mình một kết cục bất hạnh bởi lao vào vòng xoáy hầu bóng, lên đồng, là bà Hàn Sính. Bà là vợ ông Hàn Sính, một nhà cự phú ở giữa đô thành, “tiền của ở đâu lại cứ nhảy về ông ùn ùn như nước lũ kỳ mưa, trên cao nguyên chảy xuống đồng bằng”, không ai là không biết tiếng. Ông bà chỉ có một cậu con trai sắp đậu cử nhân bên Pháp. Tiền của có, danh giá có, thế mà bà Hàn vẫn buồn. Bà muốn có thằng em trai để hương khói cho ông bà, tổ tiên. Nhưng, dù đã mua năm nàng hầu, ông thân sinh chỉ thêm được một cô con gái là dì Hồng. Về phía bà, nhà trống vắng nên phải gọi em gái lên để trông nom nhà cửa. Trong thâm tâm, bấy lâu nay, bà ao ước thêm vài mụn con cho có người ra kẻ vào vui vẻ, nhưng không sao được. Bà đã nhiều lần chạy chữa tốn kém mà vẫn không kết quả. Sau có người  xui bà đi xem bói. Xem ở đâu người ta cũng bảo bà có số thờ, phải “ra đồng”, phải đội bát nhang mới hòng thêm người, thêm của được. Lại có lời người bạn “Các ngài đã sai chấm lính thì mẹ nó trốn làm sao được, vài cái lễ tốn kém là bao nhiêu…”. Lời nói như lửa đổ thêm dầu, càng nung nấu “cái số phải đội bát nhang” của bà. Mặc cho ông Hàn, là người  bài xích kịch liệt việc này, vì tin rằng rồi thánh sẽ thay đổi tâm tính của ông để theo bà. Rồi, nhờ bà Tư mở lối, nhiệt tình giúp đỡ vì cái lợi của đôi bên, nên bà Hàn đã được hầu thánh ở đền Chầu, “là ngôi đền có tiếng trong những nơi tối linh”. Ngay lần đầu, không ai ngờ được, “bà Hàn lại có thể mở diện nhanh nhẹn”, “âu là căn mạng của bà nhẹ nhàng lắm, và thánh cũng thương bà lắm” một cách hoàn hảo. Từ đó, bà Hàn Sính nhờ “bạn căn” mà có được “cơ cánh” bước vào cửa thánh suôn sẻ, ngày một thuần thục. Thuần thục ngay cả việc “làm tiêu hẳn hai phần ba số ngày trong một năm vào việc đi lễ đi bái”. Nếu không, bà lại lao vào hội tổ tôm, bàn chắn. Từ ngày ra đồng, bà Hàn  quên hết cả chồng con gia đình, buôn bán, hàng họ; và, chính bà phải gánh lấy nỗi khổ của riêng mình khi ông Hàn có con riêng với dì Hồng - cô em gái bà, mà lại là con trai nữa. Bà giận em gái, thù ghét cái gọi là “trót dại” như lời thú tội của chồng. Bà lại bỏ nhà đi tối ngày. Như con thiêu thân, bà Hàn càng chăm đi lễ, đi bái, đi tiêu khiển, trở thành bà Hàn Sính “đồng bóng lẫm liệt, coi tiền như rác”. Cả bọn con đồng lẫn bọn đồng nam tìm cách làm thân với bà, để phỉnh phờ, tâng bốc, để bòn rút trục lợi trên tiền và trên cả thân xác của bà. Và cái gì đến sẽ đến, bà Hàn si mê tên cung văn Ký Sìn có giọng hát chiều nịnh bà “hầu đủ hai mươi mấy giá quan lớn đệ nhất cho tới giá cậu bé”: Từ lúc “bà mềm mại hất cái khăn diện phủ lên đầu, cho tới khi hai bàn tay run bần bật để từ từ nâng lên ra hiệu - nếu các quan thì tay trái, và tùy theo thứ bậc giơ số ngón tay. Tỉ dụ quan đệ nhất thì một ngón, quan đệ tam thì ba ngón; và nếu các giá chầu thì cũng thế, nhưng dùng tay phải. Thật là một dị cảnh huyền hoặc”. Thế rồi, bà Hàn - cung văn Ký Sìn đã “đón đưa” nhau bằng ánh nhìn và giọng hát, tiến tới sống cùng nhau. Và lạ thay, họ cũng có một đứa con trai! Nhưng cái sự gần gũi kiểu ăn xổi ở thì đã đưa đến đoạn kết không như ý muốn của họ. Gã cung văn nghiện thuốc phiện đã phá kỳ hết tiền bạc. Khi không có tiền mua thuốc, gã hành hạ bà đồng Hàn xuân sắc một thời, thành ra thân tàn ma dại. Tới đây, các nhân vật tiểu thuyết đã đi hết số phận của họ. Ông Hàn cùng dì Hồng về  trông nom đồn điền, di dưỡng tinh thần; cậu cử về nước, trụ lại nhà, đi dạy học, viết báo, viết sách; còn bà Hàn vẫn lay lắt ở ngoài đền, tự trả giá cho lòng tự tín và hầu bóng quá đà của mình. Có thể nói, cảm hứng nổi bật trong Hầu thánh là cảm hứng phê phán sự khốc hại của mê tín dị đoan, của bói toán quàng xiên, của bài bạc tổ tôm; với một giọng mỉa mai, hài hước mà thấm thía, nhân văn.

      Hầu thánh có sự giao thoa, tương tác giữa tiểu thuyết và phóng sự. Nhìn từ góc độ tiểu thuyết, tác giả đã khá thành công trong miêu tả nhân vật và xây dựng cốt truyện. Một cốt truyện có mở đầu, có cao trào, thắt nút, với sự đan xen giữa ngôn ngữ trần thuật và ngôn ngữ nhân vật. Dễ nhận thấy mỗi nhân vật đều có cá tính và tiếng nói riêng; cả từ ngoại hình, dáng vẻ đến nỗi niềm sâu kín đều rất riêng. Nhìn từ góc độ phóng sự, Hầu thánh nổi bật ngôn ngữ trần thuật ở ngôi thứ nhất. Với những chương mang chất phóng sự , người đọc nhận ra cái tôi chứng kiến, cái tôi nhập cuộc của người trần thuật rất rõ ràng. Những trang viết về thế giới hầu đồng thì thật sinh động, đầy màu sắc từ ngoại cảnh đến tâm cảnh; cho thấy sự quan sát tường tận, cặn kẽ, thật đáng nể của một tác giả đang ở tuổi hoa niên. Những trang viết về lên đồng đã giúp người đọc hình dung các bước chuẩn bị cho buổi hầu đồng khá bài bản quy củ; từ điện thờ, chọn ngày đẹp, dàn nhạc, nhân sự đến trang phục và lễ vật, đều đâu ra đấy. Người đọc như nghe được trong Hầu thánh: “tiếng đàn, tiếng xóc ống thẻ, tiếng xuýt xoa khấn vái, tiếng kêu của người hầu dâng, tiếng hú của các bà đồng, và tiếng rì rào nói chuyện… Tất cả hợp thành một thứ tiếng ồn ào kỳ dị, làm mê hoặc và huyễn ảnh lòng người”, bên cái “không khí tôn nghiêm mù mịt khói hương, ngạt ngào hoa…” ấy. Và, người đọc như thấy “các bà vẫn ung dung nhảy múa, trang điểm giữa sức nóng hâm hấp của một lò than và những cái sức đè nén ghê rợn kia, thì thật là những kỳ nhân đại tài vậy. Âu là việc thánh, mình người phàm, mắt tục, hiểu sao thấu được thiên cơ”. Ở đây, tác giả như đã thuộc nằm lòng lời ăn tiếng nói của con nhang đệ tử qua những lời thoại, đối đáp; cùng với diễn biến truyện đầy kịch tính, đã kích thích người đọc hứng thú khám phá mọi điều bí ẩn của thế giới đồng bóng, hầu bóng - vốn là vấn đề “nóng” hiện nay.

      Đọc Hầu thánh trong thời hiện đại còn cho ta liên tưởng đến một khía cạnh mới, đó là vấn đề đồng tính. Vấn đề này trong phạm vi toàn xã hội, việc nhìn nhận và xử lý sao cho phù hợp là điều không dễ dàng. Còn hiện tượng đồng tính trong Hầu Thánh thì ta nên hiểu thế nào? Phải chăng đó chỉ là hệ lụy của hầu đồng - hầu bóng mà thôi? Hệ lụy này tuy chỉ xảy ra trong phạm vi hẹp ở một số đền chùa, nhưng cũng làm phức tạp thêm cuộc sống của cộng đồng. Xử lý nó thế nào, càng không dễ. Bởi nó còn liên quan đến vấn đề tâm linh thần thánh nữa.

Để được hầu thánh thì, một trong những bước quan trọng là phải “kết căn”. Mà khi “kết căn” rồi, nghĩa là họ đã là “vợ chồng” với nhau. Vấn đề ở đây là, các bà đồng phải tự giới hạn được chính mình, để không bị lóa mắt, hợm mình trong quan hệ với các bạn “đồng căn”. Lộng Chương đã khéo léo dẫn ra các trường hợp a dua theo đòi đồng bóng, như trường hợp bà giáo Đào. Bà là vợ góa của một ông giáo. Bà có thể là từ mẫu, nếu biết gìn giữ cảnh quả phụ trong việc chăm nom săn sóc gia đình mình. Nhưng không, “đồng bóng đã đưa bà đến chỗ quên cả thiên chức của người đàn bà, và nhất là của người mẹ”. Bà đã đến ở hẳn với bà đồng Châu, “kết căn” với bà đồng Châu. Bởi, “Cái tình âu yếm ái ân đứt đoạn đã gieo vào lòng bà một sự tiếc rẻ buồn phiền, để bà phải đi tìm sự ve vuốt âu yếm của một thứ tình yêu kỳ dị với người đàn bà khác”. Vì thế, hai bà đã “kết căn” với nhau, nôm na là kết ngãi vợ chồng. Bời bà đồng Châu có căn đồng quan lớn, bà giáo có căn đồng chầu bà. Nên hai bà “kết căn”, sóng đôi “cho hai cõi lòng đỡ lạnh”.

Ở một trường hợp khác, Lộng Chương với bút pháp trào lộng quen thuộc, đã vẽ bức tranh biếm họa về sự “kết căn” của bà Hai và bà Năm Khách. Nhưng ở đây sự “kết căn” đã bị một bên lợi dụng. Từ khi bà Hai bị đuổi đi, “… bà Năm Khách lại ở vậy một mình. Có lẽ số bà cao quá! Góa bụa cả với một cuộc chung đôi với người cùng giống”. Bằng cách nhìn của một tác giả phóng sự, sau những cảnh ngộ, tình huống éo le phức tạp từ các bà đồng, Lộng Chương ngao ngán nhận thấy “… với những bọn con cái nhà thánh này, thì một bài học dù có đắt đỏ và sâu xa đến đâu cũng không bao giờ làm cho họ tỉnh ngộ”.

     Là tiểu thuyết đầu tay, nhưng Hầu thánh đã cho thấy tính chuyên nghiệp của ngòi bút Lộng Chương. Không bằng giọng chói gắt, đao to búa lớn, mà bằng thái độ khách quan, tỉnh táo, với nghệ thuật trần thuật trào lộng, hài hước, Lộng Chương đã vén mở một góc của hiện thực Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, đưa đến cho người đọc ngày nay một cách nhìn, cách nghĩ mới về quá khứ: văn hóa tâm linh, phái tính, là những vấn đề nóng, đòi hỏi giới nghệ sĩ cùng các nhà nghiên cứu cần thận trọng, tỉnh táo trong quá trình sáng tạo và tiếp nhận văn chương, nghệ thuật.

 (*) Từ đây những trích dẫn trong ngoặc kép đều lấy từ tiểu thuyết phóng sự Hầu thánh, NXB Văn học, H, 2010 (NBT)

 


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét