Chủ Nhật, 12 tháng 10, 2014

Mãi mãi là điểm tựa của nhau(*)

Cha Mẹ (2001)
Đã qua giỗ hết mẹ. Lại sắp đến giỗ cha. Cũng là ngày giỗ hết.
Kể từ phút giây cha nằm xuống, còn chưa đầy ba ngày nữa là tròn hai năm. Hai năm là bảy trăm ba mươi ngày trôi qua trong nỗi nhớ cha nhớ mẹ triền miên day dứt bám riết nơi con. Nỗi nhớ cha nhớ mẹ là một phần trong giấc ngủ, mỗi khi con ăn, mỗi lúc con uống, ở mỗi công việc hằng ngày con trải. Cha nhắm mắt với niềm đau thắt ruột. Mẹ nằm xuống trong nỗi buồn mênh mang. Nỗi buồn, niềm đau qua ngày dường chẳng vơi đi, mà lại trào dâng quay quắt dày vò trong con. "Cha đưa mẹ đón" liên tiếp chưa đầy năm làm con chơi vơi đau đớn, luôn phải tìm về quãng sống xưa để hoài niệm một thời còn cha còn mẹ, mong khoả lấp khoảng trống chông chênh khi vĩnh viễn chẳng còn được "non cao nước nguồn" che chở.

LỘNG CHƯƠNG TRÊN MỘT QUÃNG ĐƯỜNG TỈNH THANH(*)

 Mai Bình(**)
Ông Mai Bình (đứng thứ hai từ phải sang) - một lãnh đạo ngành
Văn hóa Thanh Hóa, ông Huy Lý (ngoài cùng bên phải)
Đoàn trưởng Đoàn Chèo Thanh Hóa

Tôi và anh có quan hệ với nhau trong tình nghệ sĩ, là bạn bè tâm đắc nhưng lại cũng như anh em trong một gia đình. Nói là bạn, nhưng thực ra, anh coi tôi là bạn tri kỉ vong niên, mặc dù tôi kém anh gần chục tuổi đời và anh đã là người nghệ sĩ sáng danh trước khi tôi nhập hội. Trình độ nghề nghiệp và kiến thức ở một số mặt anh vượt hơn tôi. Nói như anh em trong một gia đình vì niềm vui nỗi buồn trong gia đình, chúng tôi thường thông báo, chia sẻ, tâm sự cùng nhau. Chúng tôi thường ăn ý nhau trong việc đối nhân xử thế hay nhận xét những nhân vật sống quanh mình. Có cái nguyên cớ để tôi nhắc lại một đôi điều về nghệ sĩ Lộng Chương với cái nghiệp sân khấu trên một quãng đường ở cái xứ Thanh này. Chuyện thì nhiều nhưng hôm nay, sự nhớ của tôi đâu còn tươi tỉnh minh mẫn như cái lúc đang xoan?

Thứ Bảy, 11 tháng 10, 2014

CỨ THẾ THU ĐẾN. CỨ VẬY THU ĐI!(*)

         
Cây cơm nguội vàng
  Tản văn

           Thu đã về trong gió heo heo. Thu của ai? Hay thu của tôi? Thu của tôi -  thu của những giao cảm đan xen trong gió và nắng. Xưa, cái tuổi còn ngơ ngơ, ngố ngố. Thu tới là mùa của những đêm trăng rằm có chị Hằng xinh đẹp ngồi gốc cây đa. Có chú cuội mải chơi để trâu ăn lúa. Có bánh dẻo ngạt thơm mùi nếp mới. Có bánh nướng ngầy ngậy nhân mỡ cùng ngan ngát hương lá chanh xanh. Có chiếc đèn ông sao năm cánh để cầm chơi chạy rong khắp phố. Có múi bưởi chua mẹ chia chỉ dám nhấm nháp từng con tép nhỏ. Có mâm cỗ xanh đỏ bày dưới ánh trăng thanh. Có cả lúc xúm quanh mẹ hiền, say mê ngắm nghía chú thỏ, chú chó bông sinh ra từ bàn tay của mẹ, bằng những múi bưởi tẽ ra… Nhiều, nhiều lắm chẳng thể kể xiết.

NGHỈ HÈ(*)

Tản văn
     Hoa gạo và hoa xoan tây khi vào hè đã khơi gợi sự thắc thỏm, sự hồi hộp, sự lo âu trong lòng những học sinh lớn tuổi; do họ phải nghĩ đến những ngày thi cử, những ngày sẽ phải chia tay bạn bè mỗi người một ngả.
         Còn đối với lũ trẻ con bé xíu, những ngày vào hè không có nỗi lo âu như thế; cũng không có sự chia tay bạn bè để làm cho lòng se se buồn.
Vào hè với tôi thuở còn bé xíu, khi còn là cậu học trò lớp tư, khi hoa gạo và hoa xoan tây càng nở đỏ bao nhiêu, thì sự vui mừng, khấp khởi trong lòng càng rộn rã bấy nhiêu. Những ngày dài được nghỉ học, được tự do nhảy nhót, và có thể còn được đi chơi xa, đã hiện lên trong tâm trí tôi bao điều sung sướng.

Thứ Sáu, 10 tháng 10, 2014

NHỚ MỘT NGƯỜI THÀY ĐÃ "ĐI XA"...

Nguyên Bí thư Đảng ủy Trường ĐHBK Hà Nội
Bùi Nguyên Cát cùng tác giả bài báo
Thưa Thày!
Giờ Thày đã “đi xa”. Rất xa. Chẳng bao giờ con còn được đến để sà vào vòng tay ấm áp, chở che; chẳng còn được áp má vào lồng ngực, nơi có tiếng đập con tim luôn thổn thức, đau đáu với những ngổn ngang nhân tình thế thái của Thày nữa, Thày ơi!
Còn nhớ một lần, trước khoảng một năm ngày Thày “đi xa”, con đến thăm Thày. Con thực sự ngỡ ngàng trước sắc mặt tái xạm của Thày. Trong con trào lên nỗi đau khó tả. Cha con - nhà viết kịch Lộng Chương, khi đó vừa “khuất núi”.
        Nay lại thấy Thày trong thể trạng như vậy, trong con xuất hiện một nỗi lo lắng mơ hồ. Một ngày nào đó, có thể rất gần thôi, Thày cũng sẽ “đi xa”; sẽ gặp lại cha con nơi chín suối…

TÔI NHỚ(*)

                                                                                                   Hà Khang
Viết những kỉ niệm về chặng đường hoạt động của Nhà nghệ sĩ lão thành Lộng Chương ở Thanh Hóa này thì biết viết sao cho hết, cho đủ. Vì ông đã để lại cho sân khấu Thanh Hóa bao nhiêu là việc tốt điều lành. Cánh nghệ sĩ địa phương chúng tôi đã tôn ông là một người anh lớn, người anh vừa có uy rộng lại có tình sâu.
Lộng Chương (đứng giữa, cạnh cô gái tết tóc đuôi sam)
dịp Đoàn Kịch nói Thanh Hóa ra mắt

Thứ Tư, 8 tháng 10, 2014

A NÀNG(*)

Trường Lưu
Lộng Chương - 1960 (Là năm
Lộng Chương sáng tác và cho ra mắt Quẫn và A Nàng) 
      Lâu nay kịch thơ được trình diễn trên sân khấu đã rất ít, kịch thơ in thành sách văn học lại càng ít hơn. A Nàng(**) của Lộng Chương được xuất bản gần đây là một kịch thơ đã được “thử thách” trên sân khấu, dưới hình thức chuyển thể thành cải lương.
      A Nàng là một câu chuyện truyền thuyết của dân tộc Mường, tỉnh Hòa Bình. Lâu ngày quên dần, câu chuyện còn lại trở thành sơ lược, nhưng tên A Nàng vẫn dính liền trong trí nhớ mọi người. Lộng Chương đã dựa vào cốt truyện đó, đi sâu, tìm hiểu đời sống của dân tộc Mường để viết kịch thơ.

Thứ Hai, 6 tháng 10, 2014

CÁI GHẾ(*)

                               Truyện ngắn Phạm Hồng Thắm
Thị huỳnh huỵch nện gót lên cầu thang. Từng bước một, Thị đặt mạnh chân, chắc chắn, tự tin. Thế là Thị  đã ngồi được vào cái ghế Trưởng phòng. Cảm giác thoả mãn đang ngập tràn trong Thị. Thế cân bằng giữa hai đối thủ đã bị phá vỡ. Bị nâng bổng lên ở  đầu đối diện với Thị, trên cái bập bênh bầu bán lần này là hắn, một gã "khu chớ" chính cống. Sức nặng đã nghiêng hẳn về Thị.
          Thị và gã, hai kẻ thật khác nhau.
          Hắn điển hình cho một mẫu người khác lạ. Một kẻ bị lai căng khuôn dạng và lối sống của hai miền đất nước. Cảnh nghèo khốn khó của một vùng chó ăn đá gà ăn sỏi tạo cho hắn cách nghiến kèn kẹt hai hàm răng khi nói, thể hiện cuộc sống quá đỗi gian truân. Đến cả một câu nói cũng muốn tiết kiệm năng lượng bằng sự hạn chế luồng hơi từ trong họng hắt ra. Cái nắng nóng thiêu đốt của "khúc ruột" miền Trung còn in đậm trên dáng hình khô khốc và làn da đen se sắt của hắn. Để lấp đi những khiếm khuyết thiên bẩm ấy, hắn cố tạo một dáng đi khệnh khạng, nghênh nghênh; với điệu bộ kênh kiệu, phớt đời như kiểu anh trí thức Bắc Hà cái thuở xa lắc ngày xưa.

MỘ TỔ(*)

Truyện ngắn Giang Trung Học
            
Họ Phan to nhất làng Văn. Là một trong hai họ có công khai phá lập làng cách đây hơn hai trăm năm. Ấy nhưng, dễ đã ba đời nay, họ Phan bị lép vế trước họ Trần nhỏ bé. Thành thử trong tâm trí người họ Phan luôn luôn có sự ấm ức.
          Từ hôm anh Khai lên giữ chân trưởng tộc họ Phan, xem ra rất máu me tìm mưu tính kế để dần dần giành thế thắng cho họ. Anh còn rất trẻ. Tuổi chưa đầy ba mươi. Cao to. Trường sức. Trình độ không được đại học thì cũng có cái bằng phổ thông trung học, và từng đi khắp đó đây. Lại thêm ưu điểm nổi bật là nhậy bén trước thời thế, với tính quyết đoán cao. Nên mọi người đều đặt niềm hy vọng và ra sức ủng hộ anh, để đưa họ Phan vượt lên.

Hoài I... (*)

Đêm kịch nội bộ,
sau đợt Văn nghệ sĩ Liên khu III học tập “cải tạo tư tưởng”
 tại Đông Môn, thành Tây Đô, Thanh Hóa. 1951.

                            Hồn lạnh hoang sơ lộng gió lùa
                            Xa rồi lũy ải nếp thành xưa!
                            “Vàng”(2) reo lỡ điệu trau mày lệ
                           “Đường” loạn “Kim” hài lạc hướng mơ!

                            Đêm hội Thiên Thai lửa dị kỳ
                            Mắt ngời suối thẳm đổ hàng mi
                            Nét hoa ngưng đọng lời xao "Xuyến"
                            Đôi lứa nghiêng sầu mưa biệt ly!

                            Tiền thân diễm lệ chuyện Tây Sương
                            Ngọc chuốt “Thôi-Oanh” đẹp dị thường
                            Luân hồi hò hẹn đêm giao cảm
                            Mây tóc vương tình trao phấn “Hương”.

                            Phấn hương nào thắm Trác Văn Quân
                            Rèm hoa xiêm lả tóc buông trần
                            Phím tơ Tư Mã tròn đêm mộng
                            Ngõ hạnh cầm ca trăng ái ân!

                            Tặng ngọc ai cầm một thuở xa
                            Khi lời mắt ngỏ ý phong ba
                            Hợp hoan đâu kể niềm ly cách
                            Ta của Em rồi, Em của ta…(3)
Nửa tháng 2 - 1951
Nhớ đêm “Màn cửa vàng”, Giải phóng biên giới.

(1)  Có nghĩa là: Nỗi nhớ nhung; Thơ “Ta-Bạn &Đời, Nxb Hội Nhà văn, 2013.
(2)  Những từ trong ngoặc kép là tên gọi tắt của vở kịch và tên các nhân vật trong kịch.
(3)  Có nghĩa: Sân khấu như thể duyên nghiệp buộc tác giả (BT chú thích)